Thứ tư, ngày 25 tháng hai năm 2009

SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2009 CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI


SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2009 CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI

Anh chị em thân mến!

Khởi đầu Mùa Chay, mùa luyện tập thiêng liêng ráo riết hơn, một lần nữa Phụng Vụ đề nghị cho chúng ta ba việc thực hành sám hối rất quen thuộc với truyền thống Kinh Thánh và Kitô giáo: cầu nguyện, bố thí và chay tịnh, để chuẩn bị cho chúng ta mừng lễ Phục Sinh sốt sắng hơn và do đó cảm nghiệm được sức mạnh của Thiên Chúa, như chúng ta sẽ nghe trong Đêm Canh Thức Phục Sinh: “khử trừ muôn tội vạ, thanh tẩy hết lỗi lầm, biến tội nhân thành con người công chính, đem vui mừng cho hồn nặng sầu thương, tiêu diệt hận thù, hòa giải bất thuận, khuất phục mọi quyền uy” (Công bố Tin Mừng Phục Sinh). Trong Sứ điệp Mùa Chay năm nay, tôi muốn chú ý đặc biệt hơn đến giá trị và ý nghĩa của việc chay tịnh. Thật vậy, Mùa Chay nhắc lại bốn mươi ngày chay tịnh của Chúa trong hoang mạc, trước khi Người bắt đầu sứ vụ công khai. Chúng ta đọc thấy trong Tin Mừng: “Chúa Giêsu được Thánh Thần đưa vào hoang mạc để chịu ma quỷ cám dỗ. Sau khi đã ăn chay bốn mươi đêm ngày, Ngài cảm thấy đói” (Mt 4, 1-2). Cũng như Môisen đã ăn chay trước khi lãnh nhận Bia Luật (x. Xh 34, 28), và Êlia cũng ăn chay trước khi gặp Chúa trên núi Hôreb (x. 1 V 19,8), Chúa Giêsu cũng chuẩn bị sứ vụ bằng việc cầu nguyện và ăn chay, khởi đầu bằng một cuộc chiến gay go với tên cám dỗ.

Chúng ta sẽ tự hỏi: đối với Kitô hữu chúng ta, đâu là giá trị và ý nghĩa của việc bị tước đi điều gì đó vốn tự nó là tốt và hữu ích đối với cuộc sống của chúng ta. Kinh Thánh và toàn bộ truyền thống Kitô giáo dạy rằng chay tịnh giúp tránh được tội lỗi và tất cả những gì đưa đến tội lỗi. Vì thế, lịch sử cứu độ luôn mời gọi chay tịnh. Ngay trong những trang đầu tiên của Kinh Thánh, Chúa đã truyền cho con người kiêng ăn trái cấm: “Ngươi có thể ăn mọi trái cây trong vườn, nhưng cây biết lành biết dữ, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn nó, chắc chắn ngươi sẽ chết.” (Kn 2, 16-17). Khi chú giải lệnh cấm này, thánh Basiliô nhận xét rằng “luật chay tịnh đã được ban ra trong vườn địa đàng”, và “theo nghĩa này, giới luật đầu tiên đã được ban cho Ađam”. Bởi thế, ngài kết luận: “ ‘Ngươi không được ăn’ là một luật chay tịnh” (x. Bài giảng về chay tịnh: PG 31, 163, 98). Bởi vì tất cả chúng ta bị tội lỗi và các hậu quả của nó đè nặng, nên việc chay tịnh là một phương thế để chúng ta nối lại tình bạn với Chúa. Đó là điều Ezra đã làm trước khi xuất hành từ chốn lưu đày trở về Đất Hứa, khi ông mời dân chúng tập họp lại ăn chay “hạ mình trước nhan Thiên Chúa chúng ta” (8, 21). Đấng Toàn Năng đã nghe lời họ cầu nguyện và đã đoan chắc sẽ phù hộ và bảo vệ họ. Cũng thế, dân thành Ninivê đã đáp lại lời kêu gọi sám hối của Giôna, họ đã công bố sẽ ăn chay như là dấu chỉ lòng chân thành. Họ nói: “Biết đâu Thiên Chúa chẳng nghĩ lại, chẳng bỏ ý định giáng phạt, và nguôi cơn thịnh nộ, khiến chúng ta khỏi phải chết” (3, 9). Lần này, Thiên Chúa cũng thấy những công việc họ làm và tha cho họ.

Trong Tân Ước, Chúa Giêsu làm sáng tỏ lý do sâu xa của việc chay tịnh khi lên án thái độ của người Pharisêu; họ tuân giữ các luật truyền cách tỉ mỉ, nhưng tâm hồn thì xa Chúa. Việc chay tịnh đích thực, như Chúa còn lập lại ở những nơi khác, đúng hơn hệ tại làm theo thánh ý Cha trên trời, Đấng “nhìn thấy trong nơi bí ẩn và sẽ đền bù cho ngươi” (Mt 6, 18). Chính Ngài làm gương cho điều đó khi đáp lại Satan, lúc kết thúc bốn mươi ngày trong hoang mạc: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4, 4). Như vậy, việc chay tịnh đích thực có mục đích ăn “lương thực đích thực”, tức là làm theo thánh ý của Chúa Cha (x. Ga 4, 34). Bởi thế, nếu Ađam bất tuân lệnh Chúa “ không được ăn trái cây biết lành biết dữ”, thì người tín hữu, qua việc chay tịnh, cũng muốn phục tùng Thiên Chúa cách khiêm hạ, khi phó thác cho lòng nhân từ và thương xót của Người.

Việc thực hành chay tịnh rất thịnh hành trong cộng đoàn kitô hữu tiên khởi (x. Cv 13, 3; 14, 22; 27, 21; 2 Cr 6, 5). Các Giáo Phụ cũng nói về sức mạnh của việc chay tịnh, có khả năng kiềm chế tội lỗi, nhất là những ước muốn của “Ađam cũ”, và mở ra con đường dẫn đến Thiên Chúa nơi tâm hồn của người tín hữu. Hơn nữa, các thánh trong mọi thời đại đều thường xuyên thực hành và khuyến khích việc chay tịnh. Thánh Phêrô Kim Ngôn viết: “Việc chay tịnh là linh hồn của việc cầu nguyện, lòng thương xót là sức sống của việc chay tịnh. Vì thế, ai cầu nguyện thì phải ăn chay; ai ăn chay thì phải biết xót thương; nếu muốn lời cầu xin của bạn được lắng nghe, thì hãy lắng nghe lời cầu xin của người khác; Nếu bạn không bịt tai với kẻ khác thì Thiên Chúa sẽ nghe lời bạn” (Bài giảng 43: PL 52, 320.322).

Ngày nay, dường như chay tịnh đã mất đi phần nào giá trị thiêng liêng, và trong một nền văn hóa chuyên tìm kiếm tiện nghi vật chất, chay tịnh chỉ có giá trị như một liệu pháp chăm sóc thân thể. Chắc chắn, việc ăn chay đem lại ích lợi cho thân xác, nhưng đối với người tín hữu, trước tiên nó là một “liệu pháp” để chữa trị tất cả những gì ngăn cản họ tuân theo thánh ý Thiên Chúa. Trong Tông Hiến Pænitemini năm 1966, vị Tôi Tớ của Thiên Chúa, Đức Phaolô VI, đã nhìn nhận cần phải đặt việc chay tịnh trong khung cảnh của lời kêu gọi mọi kitô hữu “không còn sống cho chính mình nữa, nhưng cho Đấng đã yêu thương và hiến mình vì họ… họ cũng phải sống cho anh chị em mình” (x. Chương I). Mùa Chay là cơ hội thuận tiện để trình bày lại những chuẩn mực trong Tông Hiến này, hầu tái khám phá ý nghĩa đích thực và trường tồn của việc thực hành lâu đời này, và giúp chúng ta từ bỏ tính ích kỷ và mở lòng ra cho tình yêu Thiên Chúa và tha nhân, là giới răn trước nhất và trọng nhất của Luật mới và là tóm kết toàn bộ Tin Mừng (Mt 22, 34-40).

Vả lại, việc trung thành thực hành chay tịnh góp phần thống nhất toàn thể nhân vị, thân xác và linh hồn, bằng cách giúp con người tránh tội và lớn lên trong sự thân mật với Chúa. Thánh Augustinô, người biết rất rõ những khuynh hướng tiêu cực của mình và xem chúng như là “những nút thắt ngoằn nghèo và rối tung” (Tự Thuật II, 10.18), đã viết “Chắc chắn, tôi cam chịu kham khổ, nhưng là để Ngài tha thứ cho tôi, để làm đẹp lòng Ngài, để đến nếm hưởng sự êm ái của Ngài” (Bài giảng 400, 3,3: PL 40, 708). Việc từ khước lương thực vật chất nuôi sống thân xác sẽ tạo điều kiện cho tâm hồn sẵn sàng lắng nghe Chúa Kitô và nuôi dưỡng mình bằng lời cứu độ của Ngài. Với việc chay tịnh và cầu nguyện, chúng ta để cho Ngài đến làm no thỏa cơn đói khát thâm sâu nhất mà chúng ta cảm nghiệm tự sâu thẳm tâm hồn chúng ta: sự đói khát Thiên Chúa.

Đồng thời, việc chay tịnh giúp chúng ta nhìn ra hoàn cảnh biết bao người anh chị em chúng ta đang sống. Trong Thư thứ nhất của mình, thánh Gioan khuyến cáo: “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?” (3, 17). Ăn chay tự nguyện làm chúng ta lớn lên theo tinh thần của người samaritanô nhân lành, cúi xuống cứu giúp người anh em đang đau khổ (x. Thông điệp Deus caritas est, 15). Khi tự nguyện từ bỏ mình vì người khác, chúng ta nhìn nhận rằng người anh chị em đang gặp khó khăn không phải là người xa lạ. Chính vì để duy trì thái độ ân cần này với anh chị em của chúng ta mà tôi khuyến khích các giáo xứ và tất cả các cộng đoàn, trong Mùa Chay, tăng cường thực hành thói quen chay tịnh cá nhân cũng như cộng đoàn, kết hợp với việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện và bố thí. Từ ban đầu, điều này đã là một đặc điểm của các cộng đoàn kitô hữu, nơi có những cuộc lạc quyên đặc biệt (x. 2 Cr 8-9 ; Rm 15, 25-27), và các tín hữu được mời gọi bố thí cho người nghèo những gì họ để dành nhờ ăn chay (Didascalia Ap., V, 20,18). Ngày nay cũng cần tái khám phá và khuyến khích thực hành này, nhất là trong Mùa Chay.

Từ những gì tôi vừa nói, có vẻ rõ ràng là việc chay tịnh biểu lộ một thực hành khổ chế quan trọng, một vũ khí thiêng liêng để chiến đấu chống lại tất cả những quyến luyến bừa bãi. Tự ý từ khước vui thú ăn uống và những của cải vật chất khác sẽ giúp cho người môn đệ Chúa Kitô kiểm soát các ham muốn của bản tính vốn đã bị tội nguyên tổ làm suy yếu đi, và những hậu quả tiêu cực của tội này bóp nghẹt toàn thể nhân vị. Một bài thánh thi cổ xưa của phụng vụ Mùa Chay đã khích lệ thật thích đáng: “Utamur ergo parcius, / verbis, cibis et potibus, / somno, iocis et arctius / perstemus in custodia – Chúng ta hãy sử dụng một cách tiết độ lời nói, thức ăn và nước uống, giấc ngủ và thú tiêu khiển. Chúng ta hãy tỉnh táo hơn để chăm sóc giác quan mình”.

Anh chị em thân mến, thật là tốt đẹp khi thấy rằng mục đích tối hậu của việc chay tịnh là giúp mỗi người chúng ta tận hiến cho Thiên Chúa, như Tôi Tớ Chúa là Đức Gioan Phaolô II đã viết (x. Thông điệp Veritatis splendor, 21). Vì thế, ước mong mọi gia đình và cộng đoàn kitô hữu sống Mùa Chay thật tốt để tránh xa tất cả những gì làm sao nhãng tâm trí và để tăng cường những gì nuôi dưỡng tâm hồn bằng việc quy hướng về tình yêu Thiên Chúa và tha nhân. Đặc biệt tôi nghĩ cần phải tích cực hơn trong cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa (lectio divina), đến với Bí tích Hòa Giải và tham dự tích cực vào Thánh Lễ, nhất là Thánh Lễ Chúa Nhật. Với tâm tình này, chúng ta bước vào bầu khí sám hối của Mùa Chay. Ước gì Đức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc, là Causa nostrae laetitiae (căn nguyên niềm vui của chúng ta), đồng hành và nâng đỡ chúng ta khi chúng ta nỗ lực giải thoát tâm hồn khỏi nô lệ tội lỗi, biến tâm hồn mình thành “nhà tạm sống động của Thiên Chúa” ngày một hơn. Với lời cầu chúc này và lời cầu nguyện cho mọi tín hữu và cộng đoàn giáo hội sống Mùa Chay này đạt kết quả, tôi thân ái ban Phép lành Tòa Thánh cho tất cả mọi người.

Từ Vatican, ngày 11 tháng 12 năm 2008

BÊNÊĐICTÔ XVI, GIÁO HOÀNG

Đỗ Gia Hân dịch từ bản Anh ngữ:

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/messages/lent/documents/hf_ben-xvi_mes_20081211_lent-2009_en.html

SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2009 CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI


SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2009 CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI

Anh chị em thân mến!

Khởi đầu Mùa Chay, mùa luyện tập thiêng liêng ráo riết hơn, một lần nữa Phụng Vụ đề nghị cho chúng ta ba việc thực hành sám hối rất quen thuộc với truyền thống Kinh Thánh và Kitô giáo: cầu nguyện, bố thí và chay tịnh, để chuẩn bị cho chúng ta mừng lễ Phục Sinh sốt sắng hơn và do đó cảm nghiệm được sức mạnh của Thiên Chúa, như chúng ta sẽ nghe trong Đêm Canh Thức Phục Sinh: “khử trừ muôn tội vạ, thanh tẩy hết lỗi lầm, biến tội nhân thành con người công chính, đem vui mừng cho hồn nặng sầu thương, tiêu diệt hận thù, hòa giải bất thuận, khuất phục mọi quyền uy” (Công bố Tin Mừng Phục Sinh). Trong Sứ điệp Mùa Chay năm nay, tôi muốn chú ý đặc biệt hơn đến giá trị và ý nghĩa của việc chay tịnh. Thật vậy, Mùa Chay nhắc lại bốn mươi ngày chay tịnh của Chúa trong hoang mạc, trước khi Người bắt đầu sứ vụ công khai. Chúng ta đọc thấy trong Tin Mừng: “Chúa Giêsu được Thánh Thần đưa vào hoang mạc để chịu ma quỷ cám dỗ. Sau khi đã ăn chay bốn mươi đêm ngày, Ngài cảm thấy đói” (Mt 4, 1-2). Cũng như Môisen đã ăn chay trước khi lãnh nhận Bia Luật (x. Xh 34, 28), và Êlia cũng ăn chay trước khi gặp Chúa trên núi Hôreb (x. 1 V 19,8), Chúa Giêsu cũng chuẩn bị sứ vụ bằng việc cầu nguyện và ăn chay, khởi đầu bằng một cuộc chiến gay go với tên cám dỗ.

Chúng ta sẽ tự hỏi: đối với Kitô hữu chúng ta, đâu là giá trị và ý nghĩa của việc bị tước đi điều gì đó vốn tự nó là tốt và hữu ích đối với cuộc sống của chúng ta. Kinh Thánh và toàn bộ truyền thống Kitô giáo dạy rằng chay tịnh giúp tránh được tội lỗi và tất cả những gì đưa đến tội lỗi. Vì thế, lịch sử cứu độ luôn mời gọi chay tịnh. Ngay trong những trang đầu tiên của Kinh Thánh, Chúa đã truyền cho con người kiêng ăn trái cấm: “Ngươi có thể ăn mọi trái cây trong vườn, nhưng cây biết lành biết dữ, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn nó, chắc chắn ngươi sẽ chết.” (Kn 2, 16-17). Khi chú giải lệnh cấm này, thánh Basiliô nhận xét rằng “luật chay tịnh đã được ban ra trong vườn địa đàng”, và “theo nghĩa này, giới luật đầu tiên đã được ban cho Ađam”. Bởi thế, ngài kết luận: “ ‘Ngươi không được ăn’ là một luật chay tịnh” (x. Bài giảng về chay tịnh: PG 31, 163, 98). Bởi vì tất cả chúng ta bị tội lỗi và các hậu quả của nó đè nặng, nên việc chay tịnh là một phương thế để chúng ta nối lại tình bạn với Chúa. Đó là điều Ezra đã làm trước khi xuất hành từ chốn lưu đày trở về Đất Hứa, khi ông mời dân chúng tập họp lại ăn chay “hạ mình trước nhan Thiên Chúa chúng ta” (8, 21). Đấng Toàn Năng đã nghe lời họ cầu nguyện và đã đoan chắc sẽ phù hộ và bảo vệ họ. Cũng thế, dân thành Ninivê đã đáp lại lời kêu gọi sám hối của Giôna, họ đã công bố sẽ ăn chay như là dấu chỉ lòng chân thành. Họ nói: “Biết đâu Thiên Chúa chẳng nghĩ lại, chẳng bỏ ý định giáng phạt, và nguôi cơn thịnh nộ, khiến chúng ta khỏi phải chết” (3, 9). Lần này, Thiên Chúa cũng thấy những công việc họ làm và tha cho họ.

Trong Tân Ước, Chúa Giêsu làm sáng tỏ lý do sâu xa của việc chay tịnh khi lên án thái độ của người Pharisêu; họ tuân giữ các luật truyền cách tỉ mỉ, nhưng tâm hồn thì xa Chúa. Việc chay tịnh đích thực, như Chúa còn lập lại ở những nơi khác, đúng hơn hệ tại làm theo thánh ý Cha trên trời, Đấng “nhìn thấy trong nơi bí ẩn và sẽ đền bù cho ngươi” (Mt 6, 18). Chính Ngài làm gương cho điều đó khi đáp lại Satan, lúc kết thúc bốn mươi ngày trong hoang mạc: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4, 4). Như vậy, việc chay tịnh đích thực có mục đích ăn “lương thực đích thực”, tức là làm theo thánh ý của Chúa Cha (x. Ga 4, 34). Bởi thế, nếu Ađam bất tuân lệnh Chúa “ không được ăn trái cây biết lành biết dữ”, thì người tín hữu, qua việc chay tịnh, cũng muốn phục tùng Thiên Chúa cách khiêm hạ, khi phó thác cho lòng nhân từ và thương xót của Người.

Việc thực hành chay tịnh rất thịnh hành trong cộng đoàn kitô hữu tiên khởi (x. Cv 13, 3; 14, 22; 27, 21; 2 Cr 6, 5). Các Giáo Phụ cũng nói về sức mạnh của việc chay tịnh, có khả năng kiềm chế tội lỗi, nhất là những ước muốn của “Ađam”, và mở ra con đường dẫn đến Thiên Chúa nơi tâm hồn của người tín hữu. Hơn nữa, các thánh trong mọi thời đại đều thường xuyên thực hành và khuyến khích việc chay tịnh. Thánh Phêrô Kim Ngôn viết: “Việc chay tịnh là linh hồn của việc cầu nguyện, lòng thương xót là sức sống của việc chay tịnh. Vì thế, ai cầu nguyện thì phải ăn chay; ai ăn chay thì phải biết xót thương; nếu muốn lời cầu xin của bạn được lắng nghe, thì hãy lắng nghe lời cầu xin của người khác; Nếu bạn không bịt tai với kẻ khác thì Thiên Chúa sẽ nghe lời bạn” (Bài giảng 43: PL 52, 320.322).

Ngày nay, dường như chay tịnh đã mất đi phần nào giá trị thiêng liêng, và trong một nền văn hóa chuyên tìm kiếm tiện nghi vật chất, chay tịnh chỉ có giá trị như một liệu pháp chăm sóc thân thể. Chắc chắn, việc ăn chay đem lại ích lợi cho thân xác, nhưng đối với người tín hữu, trước tiên nó là một “liệu pháp” để chữa trị tất cả những gì ngăn cản họ tuân theo thánh ý Thiên Chúa. Trong Tông Hiến Pænitemini năm 1966, vị Tôi Tớ của Thiên Chúa, Đức Phaolô VI, đã nhìn nhận cần phải đặt việc chay tịnh trong khung cảnh của lời kêu gọi mọi kitô hữu “không còn sống cho chính mình nữa, nhưng cho Đấng đã yêu thương và hiến mình vì họ… họ cũng phải sống cho anh chị em mình” (x. Chương I). Mùa Chay là cơ hội thuận tiện để trình bày lại những chuẩn mực trong Tông Hiến này, hầu tái khám phá ý nghĩa đích thực và trường tồn của việc thực hành lâu đời này, và giúp chúng ta từ bỏ tính ích kỷ và mở lòng ra cho tình yêu Thiên Chúa và tha nhân, là giới răn trước nhất và trọng nhất của Luật mới và là tóm kết toàn bộ Tin Mừng (Mt 22, 34-40).

Vả lại, việc trung thành thực hành chay tịnh góp phần thống nhất toàn thể nhân vị, thân xác và linh hồn, bằng cách giúp con người tránh tội và lớn lên trong sự thân mật với Chúa. Thánh Augustinô, người biết rất rõ những khuynh hướng tiêu cực của mình và xem chúng như là “những nút thắt ngoằn nghèo và rối tung” (Tự Thuật II, 10.18), đã viết “Chắc chắn, tôi cam chịu kham khổ, nhưng là để Ngài tha thứ cho tôi, để làm đẹp lòng Ngài, để đến nếm hưởng sự êm ái của Ngài” (Bài giảng 400, 3,3: PL 40, 708). Việc từ khước lương thực vật chất nuôi sống thân xác sẽ tạo điều kiện cho tâm hồn sẵn sàng lắng nghe Chúa Kitô và nuôi dưỡng mình bằng lời cứu độ của Ngài. Với việc chay tịnh và cầu nguyện, chúng ta để cho Ngài đến làm no thỏa cơn đói khát thâm sâu nhất mà chúng ta cảm nghiệm tự sâu thẳm tâm hồn chúng ta: sự đói khát Thiên Chúa.

Đồng thời, việc chay tịnh giúp chúng ta nhìn ra hoàn cảnh biết bao người anh chị em chúng ta đang sống. Trong Thư thứ nhất của mình, thánh Gioan khuyến cáo: “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?” (3, 17). Ăn chay tự nguyện làm chúng ta lớn lên theo tinh thần của người samaritanô nhân lành, cúi xuống cứu giúp người anh em đang đau khổ (x. Thông điệp Deus caritas est, 15). Khi tự nguyện từ bỏ mình vì người khác, chúng ta nhìn nhận rằng người anh chị em đang gặp khó khăn không phải là người xa lạ. Chính vì để duy trì thái độ ân cần này với anh chị em của chúng ta mà tôi khuyến khích các giáo xứ và tất cả các cộng đoàn, trong Mùa Chay, tăng cường thực hành thói quen chay tịnh cá nhân cũng như cộng đoàn, kết hợp với việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện và bố thí. Từ ban đầu, điều này đã là một đặc điểm của các cộng đoàn kitô hữu, nơi có những cuộc lạc quyên đặc biệt (x. 2 Cr 8-9 ; Rm 15, 25-27), và các tín hữu được mời gọi bố thí cho người nghèo những gì họ để dành nhờ ăn chay (Didascalia Ap., V, 20,18). Ngày nay cũng cần tái khám phá và khuyến khích thực hành này, nhất là trong Mùa Chay.

Từ những gì tôi vừa nói, có vẻ rõ ràng là việc chay tịnh biểu lộ một thực hành khổ chế quan trọng, một vũ khí thiêng liêng để chiến đấu chống lại tất cả những quyến luyến bừa bãi. Tự ý từ khước vui thú ăn uống và những của cải vật chất khác sẽ giúp cho người môn đệ Chúa Kitô kiểm soát các ham muốn của bản tính vốn đã bị tội nguyên tổ làm suy yếu đi, và những hậu quả tiêu cực của tội này bóp nghẹt toàn thể nhân vị. Một bài thánh thi cổ xưa của phụng vụ Mùa Chay đã khích lệ thật thích đáng: “Utamur ergo parcius, / verbis, cibis et potibus, / somno, iocis et arctius / perstemus in custodia – Chúng ta hãy sử dụng một cách tiết độ lời nói, thức ăn và nước uống, giấc ngủ và thú tiêu khiển. Chúng ta hãy tỉnh táo hơn để chăm sóc giác quan mình”.

Anh chị em thân mến, thật là tốt đẹp khi thấy rằng mục đích tối hậu của việc chay tịnh là giúp mỗi người chúng ta tận hiến cho Thiên Chúa, như Tôi Tớ Chúa là Đức Gioan Phaolô II đã viết (x. Thông điệp Veritatis splendor, 21). Vì thế, ước mong mọi gia đình và cộng đoàn kitô hữu sống Mùa Chay thật tốt để tránh xa tất cả những gì làm sao nhãng tâm trí và để tăng cường những gì nuôi dưỡng tâm hồn bằng việc quy hướng về tình yêu Thiên Chúa và tha nhân. Đặc biệt tôi nghĩ cần phải tích cực hơn trong cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa (lectio divina), đến với Bí tích Hòa Giải và tham dự tích cực vào Thánh Lễ, nhất là Thánh Lễ Chúa Nhật. Với tâm tình này, chúng ta bước vào bầu khí sám hối của Mùa Chay. Ước gì Đức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc, là Causa nostrae laetitiae (căn nguyên niềm vui của chúng ta), đồng hành và nâng đỡ chúng ta khi chúng ta nỗ lực giải thoát tâm hồn khỏi nô lệ tội lỗi, biến tâm hồn mình thành “nhà tạm sống động của Thiên Chúa” ngày một hơn. Với lời cầu chúc này và lời cầu nguyện cho mọi tín hữu và cộng đoàn giáo hội sống Mùa Chay này đạt kết quả, tôi thân ái ban Phép lành Tòa Thánh cho tất cả mọi người.

Từ Vatican, ngày 11 tháng 12 năm 2008

BÊNÊĐICTÔ XVI, GIÁO HOÀNG

Đỗ Gia Hân dịch từ bản Anh ngữ:

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/messages/lent/documents/hf_ben-xvi_mes_20081211_lent-2009_en.html

http://v3.hdgmvietnam.org/Default.aspx?tabid=192&ctl=ViewArticleHeaderListDetail&mid=549&ArticleHeaderListPK=65

"Cư xử với người khác như một nhân vị"

"Cư xử với người khác như một nhân vị" : Bài nói chuyện của Đức cha Phụ tá Phêrô Nguyễn Văn Khảm với Giới Y tế Công giáo TPHCM

(Cập nhật: 25/02/2009 12:41:15)

CƯ XỬ VỚI NGƯỜI KHÁC NHƯ MỘT NHÂN VỊ

(Bài nói chuyện của Đức cha Phụ tá Phêrô Nguyễn Văn Khảm

với Giới Y tế Công giáo TP. ngày 22.02.2009,

nhân Ngày Thầy thuốc Việt Nam)

Cách đây ít ngày, Cha Louis Nguyễn Anh Tuấn nhờ tôi xem lại bản dịch Huấn thị Dignitas Personae (Phẩm giá con người). Đây là tài liệu quan trọng của Bộ Giáo lý đức tin liên quan đến những vấn đề đạo đức sinh học như thụ thai trong ống nghiệm, kỹ thuật bơm tinh trùng vào trứng, kỹ thuật làm đông lạnh phôi, kỹ thuật làm đông lạnh các noãn bào, kỹ thuật giảm trừ phôi, kỹ thuật nhân bản vô tính trên người (human cloning)… Ở đây không có ý trình bày về đề tài này, chỉ ghi nhận như một sự kiện. Nếu có gì để nói thêm, có lẽ chỉ là câu hỏi rằng, là những người làm việc trong lãnh vực y khoa và lại là người Công giáo, liệu chúng ta có hiểu biết lập trường của Giáo Hội về những vấn đề này không? Cũng có nghĩa là giới y tế Công giáo nên có những buổi học hỏi chuyên đề về đạo đức sinh học vốn là đề tài nóng bỏng trong thế giới ngày nay.

Cũng cách đây một tuần, từ 12-15.02.2009, tôi tham dự Hội thảo quốc tế về Trách nhiệm xã hội trong bối cảnh kinh tế thị trường được tổ chức ở Đồ Sơn, Hải Phòng. Hội thảo do Misereor của Đức, Viện Khoa học xã hội của Việt Nam và HĐGMVN đồng tổ chức. Gọi là quốc tế vì nhiều giáo sư từ nhiều nước đến tham dự. Đề tài hội thảo cũng là đề tài lớn và mang tính thời sự, nhất là trong khung cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay. Ở đây cũng không có ý đi sâu vào nội dung hội thảo, mà chỉ ghi nhận như một sự kiện.

Điều đáng quan tâm là khi đọc Huấn thị của Bộ Giáo Lý Đức Tin cũng như khi lắng nghe các bài tham luận của các học giả Công giáo trong Hội thảo về Trách nhiệm xã hội, tôi thấy điểm nổi bật là sự nhấn mạnh đến nhân vị (human person), xem đó là nền tảng để suy tư và hướng dẫn những chọn lựa và hành động đúng đắn trong lãnh vực y khoa cũng như trong tổ chức kinh tế xã hội. Vậy phải hiểu thế nào về nhân vị và hiểu biết đó gợi ý cho ta điều gì?

Nhân vị là từ ngữ triết học để nhấn mạnh con người không chỉ là một tổng hợp vật chất như các loài vật khác nhưng mỗi con người đều là hình ảnh Thiên Chúa, là cá thể độc đáo và không thể thay thế, có khả năng tham dự bản tính Thiên Chúa, có ơn gọi vĩnh cửu và được mời gọi tham dự chính sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Vì mỗi con người là một nhân vị ngay từ lúc tượng thai trong lòng mẹ, nên trong lãnh vực y khoa, phải tôn trọng con người ngay từ giây phút đầu tiên cũng như trong mọi giai đoạn của đời sống : “Con người phải được tôn trọng và đối xử như một nhân vị từ lúc thụ thai, nghĩa là từ giây phút này, người ta cần phải nhìn nhận những quyền của con người đối với sinh linh đó, trong số đó trước tiên là quyền được sống vốn là bất khả xâm phạm của mọi hữu thể nhân linh vô tội” (Huấn thị Phẩm giá con người, số 4). Đây là nền tảng cho giáo huấn của Giáo Hội không những về phá thai, mà còn về nhiều vấn đề khác như an tử (euthanasie), việc huỷ bỏ các phôi có chủ ý, kỹ thuật làm đông lạnh phôi… Giáo Hội khẳng định cách mạnh mẽ rằng “Lịch sử nhân loại cho thấy những tiến bộ thực sự chỉ đạt được trong sự hiểu biết và nhìn nhận giá trị cũng như phẩm giá của mỗi nhân vị như nlà nền tảng của các quyền và những mệnh lệnh đạo đức, nhờ đó xã hội loài người đã và vẫn đang được xây dựng” (Huấn thị, số 36).

Trong lãnh vực kinh tế cũng vậy, chính tầm nhìn về con người như một nhân vị dẫn ta đến chỗ ý thức con người phải là mục đích chứ không thể là phương tiện, và không được phép sử dụng con người chỉ như phương tiện sản xuất. Đã từng có thời khắp nơi hô to khẩu hiệu Tất cả cho sản xuất. Hoá ra con người chỉ là phương tiện phục vụ sản xuất chứ không phải là mục đích mà việc sản xuất phải hướng tới! Ngày nay, khẩu hiệu ấy không còn nhưng thực tế là trong nhiều xí nghiệp, ông chủ có thể tìm cách vắt kiệt sức lao động của thợ thuyền để đạt mục tiêu làm giầu hoặc cư xử với các công nhân cách tồi tệ, không xứng với phẩm giá con người. Trong cuộc hội thảo về Trách nhiệm xã hội trong nền kinh tế thị trường, tôi ghi nhận rằng các giáo sư từ các đại học Đức sang đã chủ yếu tập trung vào việc giới thiệu mô hình kinh tế được gọi là kinh tế thị trường mang chiều kích xã hội (social market economy). Mô hình này được coi như giải pháp cho sự bế tắc của hai mô hình vốn bị coi là đối nghịch nhau, một bên là thị trường tự do (free market), một bên là kinh tế tập trung (central planning economy). Đồng thời các giáo sư này cũng khẳng định rằng mô hình này phù hợp với giáo huấn xã hội của Gíao Hội Công giáo, giáo huấn đề cao con người là một nhân vị và phải tôn trọng nhân vị đó như mục đích hướng đến chứ không chỉ như phương tiện sản xuất. Nhưng họ nói thêm rằng họ chấp nhận nó không phải vì nó là công giáo nhưng vì nó phù hợp với lý trí (reasonable). Chi tiết này rất đáng quan tâm trong cuộc đối thoại giữa Giáo Hội và thế giới về các vấn đề kinh tế xã hội.

Thiết nghĩ một vài ghi nhận về nhân vị nói trên cũng cho ta thấy được tầm quan trọng của khái niệm “nhân vị” trong lập trường của Giáo Hội về nhiều lãnh vực, đồng thời cũng gợi ý cho ta đôi điều liên quan đến đời sống của mình, cách riêng là trong trách nhiệm nghề nghiệp và bổn phận giáo dục của mình.

Trước hết là trong lãnh vực nghề nghiệp. Tôi vẫn chủ quan nghĩ rằng giữa người linh mục và một bác sĩ, có sự gần gũi nào đó. Linh mục trong toà giải tội được nhìn vừa như thẩm phán vừa như lương y. Là thẩm phán khi thẩm định mức độ của tội lỗi và là lương y khi đưa ra những hướng dẫn cho đời sống thiêng liêng của hối nhân. Ngoài ra, cách nào đó, linh mục còn đóng vai trò lương y khi làm linh hướng và tư vấn mục vụ. Từ góc độ lương y này, linh mục rất gần gũi với giới y tế và có thể có những kinh nghiệm chung. Chẳng hạn, khi nhìn lại đời sống linh mục của mình, tôi thấy không ít lần, do mệt mỏi hoặc bận rộn hoặc áp lực công việc kéo dài, cũng có khi vì lười biếng hoặc ích kỷ mà mình đã không đón tiếp một người anh chị em như một nhân vị đúng nghĩa, đã có những lời nói hoặc thái độ xúc phạm đến họ, và cảm thấy ân hận khi hồi tâm lúc đêm về. Là những người làm việc trong lãnh vực y tế, các anh chị có kinh nghiệm đó không? Trong những lúc hồi tâm, chắc cũng không ít lần ta cảm thấy ân hận vì mình đã có thái độ phân biệt đối xử đối với người bệnh, đã có những lời nói nặng nề, thái độ cứng cỏi…khiến người ta cảm thấy tủi thân hơn. Ta đối xử với người bệnh trước hết như một con người (nhân vị) hay trước hết vì địa vị xã hội và khả năng tài chính của họ? Ta chăm sóc người bệnh như một con người (nhân vị) hay chỉ như một phương tiện cho ta làm giầu? Khá nhiều câu hỏi có thể được đặt ra ở đây và có thể là những câu hỏi đau đớn. Tuy nhiên, chân thành đối diện với những câu hỏi đó là cách thế mời gọi ta sống đúng với căn tính Công giáo của mình không chỉ trong giờ thờ phượng mà là ngay trong bổn phận nghề nghiệp của mình.

Tiếp đó, theo lời mời gọi của HĐGMVN trong Thư Mục Vụ 2008, chúng ta cần quan tâm đến giáo dục Kitô giáo và môi trường gia đình. Nói đơn giản là làm sao để gia đình trở thành môi trường tốt đẹp và thuận lợi nhất cho việc giáo dục đức tin cũng như những giá trị nhân bản cho con cái. Ở đây cũng thế, ý niệm về nhân vị có thể đặt ra cho ta nhiều câu hỏi : Trong việc giáo dục con cái, ta hướng con cái đến mục đích nào? Giúp con cái trở thành một nhân vị đúng nghĩa, một con người toàn diện, hay chỉ lo lắng cho con cái thu tích thật nhiều kiến thức mà tâm hồn thì cằn cỗi? Hướng con cái đến chỗ thành nhân hay chỉ nhắm thành công vật chất? Ý niệm về nhân vị còn mời gọi chúng ta xem lại cung cách ứng xử và giáo dục của mình đối với con cái. Cha mẹ đòi hỏi con cái phải tôn trọng cha mẹ là lẽ đương nhiên nhưng liệu cha mẹ có tôn trọng con cái như một nhân vị, nghĩa là như một cá thể độc đáo và không thể thay thế? Nếu ta đối xử với con cái như những nhân vị, liệu có nên áp đặt lên con cái những ý muốn độc đoán của mình hay phải tập lắng nghe những tâm tư và ước vọng của trẻ? Có nên bắt con cái phải hoàn thành ước mơ của cha mẹ (mà cha mẹ không hoàn thành được) hay phải đồng hành với con cái và giúp con cái vươn đến tầm cao những khả năng tự nhiên của nó? Trong Tâm thư gửi các gia đình, Đức Cố giáo hoàng Gioan Phaolô II đã phân tích điều răn thứ tư “Hãy thảo kính cha mẹ” và ngài viết, điều răn này không chỉ có nghĩa là con cái phải tôn kính cha mẹ mà còn hàm nghĩa cha mẹ phải tôn trọng con cái như những nhân vị, đồng thời ngài mời gọi các bậc cha mẹ sống làm sao cho xứng đáng với sự tôn kính của con cái (x. Tâm thư, số 15). Hình như đây là điều khá mới mẻ đối với nhiều bậc cha mẹ.

Tóm lại, cái nhìn về con người như một nhân vị có thể nói với ta nhiều điều trong trách nhiệm nghề nghiệp cũng như trong việc giáo dục con cái. Xin được gợi lên đôi nét như chất liệu cho suy tư nhân Ngày Thầy thuốc. Trong chương trình văn nghệ mừng Ngày Thầy thuốc trên VTV1, các ca sĩ đã cùng đồng ca bài hát kết thúc “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”. Cầu chúc quý anh chị có triệu triệu niềm vui, nhất là niềm vui phục vụ, niềm vui không được đo bằng những tính toán hơn thiệt của người đời mà là niềm vui sâu lắng, len nhẹ trong hồn và làm cho đời sống ta ngày càng phong phú hơn.

GM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Nguồn : http://v3.hdgmvietnam.org/Default.aspx?tabid=61&ctl=ViewNewsDetail&mid=382&NewsPK=1412