Chủ nhật, ngày 01 tháng ba năm 2009

Đức Tin và sự Sáng Tạo

Foi et création

(Tôi dịch và để nguyên văn, không sửa lỗi chính tả)

Đức Tin và sự Sáng Tạo

Un certain nombre de difficultés entoure la notion même de création. Sur le plan profane, ce terme a deux sens. Il y a l'acte de création comme l'artiste qui fait exister quelque chose de neuf. Il y a aussi tout ce qui préexiste à soi et ainsi la création désigne la nature, le cosmos...et toutes les choses déjà crées. Et quand on dit que Dieu est créateur, qu'est ce que cela veut dire ?

Một số những khó khăn xoay quanh khái niệm về sự Sáng Tạo. Nói theo nghĩa thông thường, khái niệm này mang hai ý nghĩa. Có một hành động sáng tạo như của một nghệ nhân người làm một cái gì đó tồn tại. Cũng có tất cả những gì tự mình tồn tại trước đó và cũng như sự sáng tạo thiết kế nên thiên nhiên, vũ trụ ... và tất cả những gì đã được tạo nên trước đó rồi. Và khi ta nói rằng Thần (Thiên Chúa) là đấng tạo hóa, điều đó có nghĩa là gì?
<--moreXem thêm-->

Méditation dans la nature

Dans la tradition judéo-chrétienne, Dieu est nommé le créateur. Cette affirmation de foi semble même primordiale pour dire que Dieu est reconnu comme le Dieu universel, son universalité s'ouvre à l'espace et à l'histoire.Ce n'est pas étonnant d'observer que c'est toute la Bible qui révèle la création de Dieu ; Car c'est tout au long de l'histoire et plus spécifiquement en Jésus Christ que Dieu se révèle. Confesser un Dieu créateur c'est confesser un Dieu qui agit tout au long de l'histoire des hommes.
Et en ce sens salut et création sont les deux versants de la présence agissante de Dieu dans le monde.
Et Dieu œuvre par l'Esprit Saint. Il appelle sans cesse les hommes à sortir du chaos en leur donnant la possibilité de discerner et de vivre en artisans de paix et de justice. Il fait don de l'Esprit du Christ, de l'Esprit de vie.

Trong cùng một truyền thống Do-thái - Kitô giáo, Thần được gọi là đấng tạo hóa. Điều khẳng định của đức tin dường như thể trước tiên để nói rằng Thần được nhận biết như vị Thần của vũ hoàn, đặc tính vũ hoàn của vị Thần khai mở vào không gian và vào thời gian. Không ngạc nhiên khi cho rằng tất cả Thánh Kinh mạc khải sự sáng tạo của Thần ; Bởi vì theo dòng lịch sử và đặt biệt nhất là trong Giêsu Kitô mà Thần tự mình mạc khải. Tuyên xưng một vị Thần tạo hóa đó chính là tuyên xưng một vị Thần đấng hoạt động suốt dòng lịch sử.
Và theo nghĩa này, sự cứu chuộc và sự sáng tạo là hai khung sườn của sự hiện diện của Thần đang hoạt động trong thế gian.
Và Thần làm việc thông qua Thánh Linh. Ngài không ngừng kêu gọi mọi người thoát ra khỏi sự hỗn độn bằng việc ban cho họ cơ hội để phân định và để sống với cương vị là khí cụ của hòa bình và công lý. Ngài ban ơn Thánh Linh của đấng Kitô và Thánh Linh của sự sống.

Pour reconnaître cet agir de Dieu pour tous, l'expérience de la foi est nécessaire et une foi éclairée par l'intelligence.

Để nhận biết sự hoạt động này của Thần cho tất cả chúng ta, kinh nghiệm về đức tin cần thiết và một đức tin được khai sáng bằng sự khôn ngoan.

Une certaine lecture de la Bible peut entrainer à une interprétation créationniste par laquelle Dieu serait réduit à un magicien qui aurait mis en route un système sans lien avec le crée par la suite. Or, il n'en est rien, les récits bibliques laissent percevoir que Dieu crée par sa Parole : en se communiquant Dieu nous met en relation avec Lui. C'est tout le mystère de l'Alliance qu'il établit entre son peuple et lui. Ainsi le prophète Amos dit haut et fort à qui veut bien l'entendre : « Cherchez Dieu et vous vivrez » (Amos 5, 4-5). Jésus, dans l'évangile de Saint Mathieu, dit lui aussi : « Cherchez d'abord le Royaume de Dieu et sa justice » (Mt 6,32).
Dieu ouvre l'espace source où l'homme a de quoi venir puiser pour vivre son humanité et l'humanisation de la planète.

Một bài đọc Thánh Kinh nào đó có thể đào tạo nên một việc chú giải về sự sáng tạo mà Thần sẽ bị giáng thành một ảo thuật gia người khởi động một hệ thống không có liên hệ gì tới vật được sáng tạo sau đó. Hơn nữa, không đúng gì cả, các tường thuật Thánh Kinh cho chúng ta sự cảm nhận rằng Thần sáng tạo bằng Lời của Ngài : khi nói với Thần, chúng ta đặt vào mối liên hệ với Ngài. Đó là tất cả những Mầu Nhiệm về Giao Ước mà Ngài thiết lập giữa dân của Ngài và Ngài. Cũng vậy ngôn sứ Amos nói lớn tiếng và mạnh mẽ cho những ai thực sự muốn lắng nghe Ngài : "Hãy tìm kiếm Thần và các người sẽ sống" (Amos 5, 4-5). Trong Tin Mừng theo Thánh Matthieu, Ngài cũng nói : "Trước hết hãy tìm kiếm Vương Quốc của Thần và công lý của Ngài" (Mt 6,32).
Thần mở ra nguồn nước nơi con người có thể đến múc lấy để sống đặc tính người của mình và làm cho mọi người trên địa cầu nên người.

En fait, la création dont il s'agit dans la Bible n'est pas une histoire de fabrication performante mais avant tout une question d'être et de conversion.
En parlant d'Alliance, la Bible ramène le lecteur à une relation ; Relation vraie qui libère de l'illusion de se prendre pour des dieux tout puissants où des pions manipulés par une puissance supérieure.

Thực ra, sự sáng tạo mà Ngài đã làm như trong Thánh Kinh không phải là một lịch sử sự lắp ráp tốt đẹp nhưng trên hết mọi sự, sự sáng tạo này là một nghi vấn về sự tồn tại và sự hoán cải.
Khi nói về Giao Ước, Thánh Kinh mang lại cho đọc giả một mối liên hệ ; Mối liên hệ thật sự, giải phóng sự ảo tưởng khỏi sự tự ràng buộc vào các thần linh tuyệt mãnh nơi đó các quân tốt trong cờ được một siêu lực điều khiển.

Retenons ce passage particulier du livre de la Genèse : « Dieu dit : faisons l'homme à notre image, comme notre ressemblance... » (Gn1, 26). Ce texte souligne ce qui caractérise l'identité de l'être humain, sa capacité d'accueillir l'Esprit. Il met aussi en évidence que la vie chrétienne se définit en terme de chemin vers une ressemblance toujours plus grande avec le Créateur.

Chúng ta hãy xem đoạn cụ thể trong sách Sáng Thế : "Thần nói : chúng ta hãy làm nên người theo hình ảnh của chúng ta, giống như chúng ta..." (St 1, 26). Đoạn này nhấn mạnh những điều làm rõ đặt tính của con người, khả năng của con người đón nhận Thánh Linh. Nó cũng làm rõ rằng đời sống Kitô hữu tự mình định nghĩa theo từ ngữ một con đường hướng đến một sự giống nhau luôn luôn lớn hơn đối với đấng Tạo hóa.

Les chrétiens ont toujours insisté sur l'amour de Dieu comme étant le fondement et le sens du devenir de l'humanité. L'amour vrai comme principe de tout ce qui est. La théologie chrétienne atteste de la dimension trinitaire de la création. Ainsi la création est à comprendre comme un acte de don dont l'amour de Dieu en trois personnes est l'origine et la finalité. L'acte de création est en fait un consentement à la relation et à l'existence de sa propre vie par un autre. Ainsi l'humanité n'est pas enfermée dans un destin fatal mais elle est appelée à partager la vie selon Dieu. L'action humaine est alors la libre coopération à l'œuvre de Dieu. En ce sens c'est l'Esprit Saint qui permet à l'œuvre de création de se réaliser. Ce qui revient à une prise en compte sérieuse du présent vécu à l'échelle du monde ainsi que du contexte dans lequel vit l'homme, chargé de la protection et de la sauvegarde de la création.

Những người Kitô hữu luôn nhấn mạnh trên tình thương yêu của Thần như nền tảng và ý nghĩa của sự trở nên người. Tình yêu thương thật sự được xem như nguyên tắt của tất cả những gì tồn tại. Thần học Kitô giáo chứng nhận khía cạnh tam-vị của sự sáng tạo. Cũng thế sự sáng tạo phải được hiểu như một món quà ban tặng của tình yêu thương của Thần trong ba ngôi vị chính là khởi nguyên và là tận cùng. Hành động sáng tạo thực ra là kết quả của mối liên hệ và sự hiện hữu của chính sự sống của Ngài do bởi một sự sống khác. Cũng vậy, nhân loại không bị khép kín lại trong một định mệnh kiên định nhưng nhân loại được kêu gọi chia sẻ sự sống theo gương Thần. Hành động của con người do đó là một sự liên kết tự do vào công trình của Thần. Theo nghĩa này, chính Thánh Linh đấng cho phép công trình sáng tạo được hiện thực hóa. Những ai thật sự tin tưởng vào hiện tại sống của đời sống trên trần gian cũng như hoàn cảnh trong đó con người sinh sống, mang lấy nhiệm vụ bảo vệ và gìn giữ tạo vật.

Thợ mộc lược dịch

Theo : Eglise Catholic website
Source: Service national de la catéchèse et du catéchuménat

Questions Essentielles

Questions Essentielles
Les miracles nous obligent-ils à croire ?
Nous fêtons cette année le 150ème anniversaire des apparitions de Lourdes. Régulièrement arrivent au bureau médical de Lourdes des cas de nouveaux miraculés, qui parfois obtiennent la reconnaissance de l’Eglise. Quelle est leur signification ? Nous forcent-ils à croire en Dieu ?
Fidéisme ou Scientisme ?

Ouvrons l’Evangile : nous y trouvons un miracle à chaque page. Jésus y marche sur les eaux, expulse les démons, multiplie les pains... un miracle à Lourdes, ce n’est donc pas une rupture avec l’Evangile, mais plutôt une continuation : les paralytiques d’hier et d’aujourd’hui se lèvent et marchent à l’appel de Jésus. Les foules s’émerveillent, mais nous nous interrogeons : pourquoi ces violations des règles de la nature ? Il semblerait que Dieu, en nous mettant sous le nez ses prodiges, nous force à croire et ne respecte pas notre liberté. C’est pourquoi le scientisme nie la réalité des miracles : ce ne seraient que des élucubrations de disciples exaltés. La conviction religieuse, si elle a lieu d’être, devrait provenir de convictions plus personnelles... Mais lorsque l’examen critique prouve bien la véracité du miracle, surgit un autre extrême : le fidéisme, pour qui le miracle est un acte d’autorité sans appel, qui n’admet aucune suspicion. Pour convertir la planète, il suffirait de montrer les prodiges de la Vierge des Pyrénées. La liberté n’est plus exaltée : elle est simplement niée.
Comment concilier la réalité des miracles avec le respect de la liberté humaine ?

Pascal a écrit une phrase lapidaire sur les miracles : « Il y a assez de lumière pour ceux qui ne désirent que de voir, et assez d’obscurité pour ceux qui ont une disposition contraire » [1]. Devant un miracle, l’homme sincère est porté à la foi, mais celui qui ferme son cœur peut toujours trouver des arguments contraires...
Un père et un fils

Prenons un exemple récent : voici André, atteint de sclérose en plaques pendant 30 ans, guéri lors d’un pèlerinage à Lourdes, et dont le miracle a été authentifié par l’Eglise après un long et soigneux examen. Pour lui, aucun doute : ces jambes qui fonctionnent de nouveau sont le signe de sa guérison spirituelle, infiniment plus importante. Pourquoi Dieu réparerait-il un corps destiné à survivre encore 20 ans tout au plus, si ce n’est pour le conduire au Paradis ? La lumière de cette intervention divine a donc pénétré son âme pour fortifier sa foi.

Ce n’est pas le cas de son fils Alexandre : pourquoi crier au miracle simplement lorsque la science n’arrive pas à expliquer un phénomène ? Il se sent offusqué par cette volonté de voir Dieu partout, de l’imposer aux autres, et préfère demeurer sceptique. Ne trouve-t-on pas de nombreux autres prodiges dans les autres religions ? le témoignage de son père n’est pas convaincant, il préfère approfondir ses convictions d’humaniste laïc plutôt que de se laisser hypnotiser par un phénomène physique. Il a en partie raison : la guérison n’est pas dépourvue d’obscurité, et la science n’a conclu qu’à sa propre incapacité de jugement. Sa liberté est donc sauve.

Cet exemple résout notre problème entre scientisme et fidéisme : le Dieu des chrétiens, lorsqu’il accomplit un miracle, ne force personne à le croire. André l’a accueilli librement, comme un signe, non comme une obligation. Et Alexandre a la sincérité de reconnaître les limites de la science. Du point de vue théologique, nous constatons l’amour de Dieu pour l’homme : Il se soumet à sa liberté et lui donne la possibilité de nier jusqu’à l’évidence de son action. Exactement comme dans l’Evangile...
Grâce, concupiscence et raison

D’autre part, la phrase de Pascal est incomplète ; lui-même la développe ainsi : « Ainsi il y a de l’évidence et de l’obscurité pour éclairer les uns et obscurcir les autres, mais [...] il y a assez d’évidence pour condamner, et non assez pour convaincre, afin qu’il paraisse qu’en ceux qui la suivent c’est la grâce et non la raison qui fait suivre, et qu’en ceux qui la fuient c’est la concupiscence et non la raison qui fait fuir » [2]

Donc, André a vraiment du mérite : il adhère personnellement à un signe assez obscure pour sa raison. Il a répondu positivement à la grâce. Mais Alexandre lui a résisté, non pas selon sa raison, mais à cause de l’inclination de son cœur qui rejette Dieu.

Bien entendu, nous nous interdirons tout jugement sur les motivations profondes des cœurs d’André et d’Alexandre, que Dieu seul connaît. Mais le bon sens nous suggère que le choix du père est préférable à celui de son fils : quitte à se tromper, il vaut mieux croire grâce à des signes discutables, que de résister à Dieu à cause d’une raison bornée. Le jeu en vaut la chandelle...

1. Pensées,n. 139
2. Pensées,n. 682