Thứ hai, ngày 13 tháng tư năm 2009

Thông Điệp Phục Sinh Urbi et Orbi (tiếng Việt)

Thông Điệp Phục Sinh Urbi et Orbi (tiếng Việt)
VietCatholic News (13 Apr 2009 00:16)
Anh chị em ở Rôma và trên toàn thế giới thân mến,

Từ thẳm sâu tâm hồn, tôi cầu chúc tất cả anh chị em một Mùa Phục Sinh đầy ơn phúc với những lời sau mượn của Thánh Augustinô: “Resurrectio Domini, spes nostra – sự phục sinh của Chúa là niềm hy vọng của chúng ta” (Sermo 261:1). Với những lời khẳng định này vị đại Giám Mục đã giải thích với các tín hữu rằng Chúa Giêsu đã sống lại để chúng ta, dù mang thân phận phải chết, cũng không thất vọng âu lo rằng chết là hết tất cả mọi thứ. Chúa Kitô sống lại để đem đến cho chúng ta niềm hy vọng (x. thượng dẫn).

Ngự Lâm Quân trước thánh lễ Phục Sinh
Đức Thánh Cha chào thăm anh chị em trước thánh lễ Phục Sinh
Đức Thánh Cha đọc thông điệp Urbi et Orbi
ĐTC nhớ đến các miền đất nơi các tín hữu vẫn bị bách hại
Thật vậy, một trong những câu hỏi gây ra khắc khoải nhất cho những người nam nữ là: điều gì sẽ diễn ra sau khi chết? Trước mầu nhiệm này, đại lễ hôm nay cho phép chúng ta đáp trả rằng sự chết không có tiếng nói chung cuộc, bởi vì cuối cùng cùng Sự Sống mới là người chiến thắng. Niềm xác tín của chúng ta không dựa trên những lý luận đơn giản của nhân loại, nhưng là trên một sự kiện lịch sử của đức tin: Đức Giêsu Kitô, Đấng đã bị đóng đinh và mai táng, đã sống lại với thân xác vinh hiển. Đức Giêsu đã sống lại, để cho chúng ta là những kẻ tin vào Người, có thể có sự sống muôn đời. Lời loan báo này là trọng tâm của sứ điệp Tin Mừng. Thánh Phaolô đã khẳng định mạnh mẽ: “Nếu Đức Kitô không sống lại thì lời rao giảng của chúng tôi ra hư không, lòng tin của anh em cũng chỉ là hư không” (1Cr 15,14.19). Từ buổi hừng đông lễ Phục Sinh, một mùa Xuân mới của hy vọng đã ngập tràn trái đất; từ ngày ấy trở đi, cuộc phục sinh của chúng ta đã bắt đầu, bởi vì lễ Phục Sinh không chỉ đánh dấu một thời điểm của lịch sử mà là một khởi đầu cho một tình trạng mới. Đức Kitô đã sống lại không phải bởi vì hồi ức về Ngài vẫn còn sống động trong con tim các môn đệ, nhưng bởi vì chính Người đang sống trong chúng ta, và trong Người, chúng ta đã có thể hưởng được niềm vui của cuộc sống đời đời.

Thành ra, sự phục sinh không phải là một lý thuyết nhưng là một thực tại lịch sử được mặc khải bởi con người Giêsu Kitô thông qua sự “Vượt Qua” của Người, với “cuộc vượt qua” ấy Người đã mở ra một “thông lộ mới” giữa trời và đất (x Dt 10:20). Đó chẳng phải là một huyền thoại hay một ước mơ, cũng chẳng phải là một thị kiến hay một hoài bão, chẳng phải chuyện thần thoại, mà là một biến cố độc nhất vô nhị: Đức Giêsu Nazareth, con của bà Maria, Đấng đã được hạ xác xuống khỏi Thập Giá vào buổi hoàng hôn của ngày Thứ Sáu, và được an táng trong mồ, Đấng ấy đã vinh quang rời bỏ ngôi mộ. Thực vậy, vào buổi sáng của ngày thứ nhất trong tuần ngay sau ngày Sabát, ông Phêrô và ông Gioan đã phát giác ra ngôi mộ trống không. Bà Mađalêna và các phụ nữ khác đã gặp gỡ Chúa Kitô phục sinh. Trên đường Emmaus, hai môn đệ cũng nhận ra Người vào lúc bẻ bánh. Chúa Phục Sinh cũng đã hiện ra với các Tông Đồ vào buổi tối trong nhà Tiệc Ly, và tiếp đó với nhiều môn đệ khác nữa tại Galilêa.

Việc công bố biến cố Phục Sinh của Chúa chiếu soi những vùng tối tăm trên thế giới mà chúng ta đang sống. Cách riêng tôi muốn nói về thuyết duy vật và thuyết hư vô, đến tầm nhìn không vươn lên cao hơn nổi những gì điều mà khoa học có thể kiểm chứng, và chán nản thu mình vào cảm giác vô vị được cho là thân phận của kiếp người. Thực ra, nếu đức Kitô đã không sống lại, thì đúng là “sự trống rỗng” sẽ thống trị. Nếu chúng ta loại bỏ Đức Kitô và sự phục sinh của Người, thì con người vô phương xoay xở và niềm tin nơi Người chỉ là ảo vọng. Tuy nhiên, hôm nay vang lên mạnh mẽ lời loan báo về sự phục sinh của Chúa, và đó là câu trả lời cho vấn nạn cứ lặp đi lặp lại của những kẻ hoài nghi như đã được sách Giảng viên ghi lại: “Thử hỏi trên đời này có điều gì nói được là mới lạ không? (Gv 1,10). Chúng tôi xin đáp: Có đấy: vào buổi sáng Phục Sinh, mọi sự đều đổi mới: “Mors et vita duelle conflixere mirando: dux vitae mortuus regnat vivus” - Sự chết và sự sống đã giao đấu với nhau trong cuộc giao tranh kỳ diệu: Chúa sự sống đã chết, nhưng nay Người đã sống lại khải hoàn. Đó là chuyện mới lạ. Một sự mới lạ làm thay đổi cuộc sống của ai đón nhận nó, như đã xảy ra trong trường hợp các thánh. Chẳng hạn, như cho thánh Phaolô.

Trong khung cảnh của năm thánh Phaolô, chúng ta đã có nhiều dịp suy niệm về kinh nghiệm của vị đại Tông Đồ này. Ông Saulô thành Taurô, kẻ quyết tâm bắt bớ các Kitô hữu, trên đường Đamát đã gặp gỡ Đức Kitô và đã bị Người “chinh phục”. Những gì tiếp theo thì ai trong chúng ta cũng đã biết. Nơi thánh Phaolô đã xảy ra điều mà về sau ông viết cho các tín hữu thành Corintô: “Hễ ai sống trong Chúa Kitô thì người ấy trở nên một thọ tạo mới; những chuyện cũ đã qua, này đây sinh ra những chuyện mới” (2Cr 5:17). Chúng ta hãy hướng về nhà đại truyền giáo này, người với lòng hăng say táo bạo và lòng nhiệt thành tông đồ đã mang Tin Mừng đến cho các dân tộc trên thế giới vào thời ấy. Hãy để lời rao giảng và gương sáng của ngài thôi thúc chúng ta đi tìm Chúa Giêsu. Hãy để những điều ấy khích lệ chúng ta tín thác vào Người, bởi vì cái cảm giác hư vô có khuynh hướng nhiễm độc nhân loại, đã bị đè bẹp bởi ánh sáng và niềm hy vọng tràn ra từ sự phục sinh của Người. Những lời của Thánh Vịnh đã được thực thi: “đêm tối không còn là đêm tối đối với ngươi nữa; đêm tối đã sáng rực như ban ngày” (Tv 139, 12). Hư vô không còn thống trị được mọi sự nhưng là sự hiện diện từ ái của Thiên Chúa. Sự thống trị của cái chết cũng bị đẩy lùi, bởi vì Lời của sự sống được hơi thở Thần Khí thúc đẩy, đã thấu đến cõi âm ti (câu 8).

Đức Thánh Cha chúc mừng Phục Sinh
Quả thực, sự chết không còn quyền hành trên nhân loại và thế giới nữa, nhưng vẫn còn nhiều, thậm chí rất nhiều dấu vết sự thống trị của nó trước đây. Dẫu cho qua biến cố Phục Sinh, Chúa Kitô đã hủy diệt gốc rễ của sự dữ, nhưng Người vẫn còn cần đến những trợ giúp của những con người nam nữ thuộc mọi thời đại và nơi chốn, những người giúp Ngài khẳng định chiến thắng của Người với những khí cụ của chính Người là công lý, chân lý, lòng thương xót, sự tha thứ và tình yêu. Đây là sứ điệp mà nhân chuyến tông du gần đây tại Camerun và Angola, tôi đã muốn mang đến cho toàn thể lục điạ Phi Châu, nơi tôi đã được chào đón với lòng nhiệt thành mãnh liệt và sự sẵn sàng lắng nghe. Châu Phi đã phải chịu đựng quá mức vì sự tàn bạo và những cuộc giao tranh bất tận, thường bị lãng quên, đã gây ra bao nhiêu là máu đổ và tàn phá xâu xé biết bao quốc gia, và làm tăng thêm con số nạn nhân của nạn đói, nghèo nàn và bệnh tật. Tôi sẽ lặp lại cách mạnh mẽ cùng một sứ điệp đó tại Thánh Địa, nơi tôi được hân hoan viếng thăm trong vài tuần nữa. Cuộc hoà giải, tuy khó nhưng không thể tránh được, bởi vì đó là tiền đề cho một tương lai của an ninh toàn cục và chung sống hoà bình, và nó chỉ có thể đạt được thông qua những nỗ lực được đổi mới, kiên trì và thành thực hầu dàn xếp cuộc tranh chấp giữa Israel và Palestine. Từ Thánh Địa, ý tưởng của tôi cũng vươn đến các nước lân cận, đến miền Trung Đông, và khắp thế giới. Thật là khẩn thiết hơn bao giờ để khám phá những cơ sở cho niềm hy vọng trong thời buổi khan hiếm lương thực toàn cầu, tài chính rối loạn, nghèo nàn lan tràn dưới hình thái cũ và mới, khí hậu đổi thay, tình trạng bạo động và sự tước đoạt bó buộc nhiều người phải rời bỏ quê hương để tìm một chỗ sống an toàn hơn, mối đe doạ hiển nhiên hơn bao giờ của chủ nghĩa khủng bố, và những nỗi lo sợ trước cảnh bấp bênh của ngày mai. Mong rằng đừng ai rút lui trong cuộc chiến an bình đã được phát động từ cuộc Phục Sinh của Đức Kitô. Như đã nói trước đây, Chúa Kitô đang tìm kiếm những con người giúp khẳng định chiến thắng của Người với những khí cụ của chính Người là công lý, chân lý, lòng thương xót, sự tha thứ và tình yêu.

Resurrectio Domini, spes nostra- Cuộc phục sinh của Chúa là niềm hy vọng của chúng ta”. Hôm nay Giáo Hội hân hoan công bố điều đó. Giáo Hội loan báo niềm hy vọng giờ đây là chắc chắn và không thể đảo ngược vì Thiên Chúa đã cho Đức Giêsu Kitô phục sinh từ cõi chết. Giáo Hội thông truyền niềm hy vọng đang ấp ủ trong tim và muốn chia sẻ với mọi người, ở khắp nơi, đặc biệt là tại những nơi mà các Kitô hữu đang chịu bách hại vì đức tin hoặc vì sự dấn thân của họ nhằm bảo vệ công lý và hoà bình. Giáo Hội gợi lên hy vọng có khả năng đem lại lòng can đảm làm điều thiện kể cả khi phải trả giá đắt. Hôm nay Giáo Hội ca tụng “ngày mà Thiên Chúa đã làm nên” và mời gọi hãy vui mừng. Hôm nay Giáo Hội nài xin Đức Maria, ngôi sao của Hy Vọng, để xin Mẹ dìu dắt nhân loại đến bến bờ an toàn của sự cứu rỗi là trái tim của Chúa Kitô, Hy lễ Vượt qua, Chiên Con đã “cứu chuộc thế gian”, Đấng Vô Tội “đã hoà giải chúng ta là những tội nhân với Chúa Cha”. Để chào mừng Người, là Vua vinh hiển, Đấng đã chịu đóng đinh và đã sống lại, chúng ta hãy hân hoan hát lên lời ca Alleluia.

+ Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI
J.B. Đặng Minh An dịch

Nguồn : http://vietcatholic.net/News/Html/66136.htm

Text en français
Message Urbi et Orbi de Sa Sainteté le Pape Benoît XVI






Chers Frères et Sœurs de Rome et du monde entier !

De tout cœur, je forme pour vous tous des vœux de Pâques avec les mots de saint Augustin : « Resurrectio Domini, spes nostra – la résurrection du Seigneur est notre espérance » (Sermon 261, 1). Par cette affirmation, le grand Évêque expliquait à ses fidèles que Jésus est ressuscité afin que nous-mêmes, pourtant destinés à mourir, nous ne désespérions pas en pensant qu’avec la mort la vie est totalement finie ; le Christ est ressuscité pour nous donner l’espérance (cf. ibid.).

En effet, une des questions qui cause le plus d’angoisse dans l’existence de l’homme est précisément celle-ci : qu’y-a-t-il après la mort ? À cette énigme, la solennité de ce jour nous permet de répondre que la mort n’a pas le dernier mot, parce que, à la fin, c’est la Vie qui triomphe. Et cette certitude qui est nôtre ne s’appuie pas sur de simples raisonnements humains, mais bien sur un fait historique de foi : Jésus Christ, crucifié et enseveli, est ressuscité avec son corps glorieux. Jésus est ressuscité pour que nous aussi, en croyant en Lui, nous puissions avoir la vie éternelle. Cette annonce est au cœur du message évangélique. Saint Paul le déclare avec force : « Si le Christ n’est pas ressuscité, notre message est sans objet, et votre foi est sans objet ». Et il ajoute : « Si nous avons mis notre espoir dans le Christ pour cette vie seulement, nous sommes les plus à plaindre de tous les hommes » (1 Co 15, 14.19). Depuis l’aube de Pâques, un nouveau printemps d’espérance envahit le monde ; depuis ce jour, notre résurrection est déjà commencée, parce que Pâques n’indique pas simplement un moment de l’histoire, mais le début d’une condition nouvelle : Jésus est ressuscité non pas pour que sa mémoire reste vivante dans le cœur de ses disciples, mais bien pour que Lui-même vive en nous et qu’en Lui nous puissions déjà goûter la joie de la vie éternelle.

La résurrection n’est donc pas une théorie, mais une réalité historique révélée par l’Homme Jésus Christ à travers sa « pâque », son « passage » qui a ouvert une « voie nouvelle » entre la terre et le Ciel (cf. He 10, 20). Ce n’est ni un mythe, ni un rêve, ce n’est ni une vision, ni une utopie, ce n’est pas une fable, mais un événement unique et définitif : Jésus de Nazareth, fils de Marie, qui au soir du Vendredi saint a été descendu de la Croix et mis au tombeau, est sorti victorieux de la tombe. En effet, à l’aube du premier jour après le sabbat, Pierre et Jean ont trouvé le tombeau vide. Madeleine et les autres femmes ont rencontré Jésus ressuscité ; il a été reconnu aussi par les deux disciples d’Emmaüs à la fraction du pain ; le Ressuscité est apparu aux Apôtres le soir venu dans le Cénacle et ensuite à beaucoup d’autres disciples en Galilée.

L’annonce de la résurrection du Seigneur illumine les zones d’ombre du monde dans lequel nous vivons. Je pense particulièrement au matérialisme et au nihilisme, à une vision du monde qui ne sait pas dépasser ce qui est expérimentalement constatable, et qui se retrouve inconsolée dans la conscience du néant qui serait le point d’arrivée ultime de l’existence humaine. C’est un fait que si le Christ n’était pas ressuscité, le « néant » serait destiné à l’emporter. Si nous retirons le Christ et sa résurrection, il n’y a pas d’issue pour l’homme et toute espérance demeure une illusion. Mais précisément aujourd'hui, éclate avec force l’annonce de la résurrection du Seigneur, et elle est la réponse à la question incessante des sceptiques, rapportée aussi par le livre de Qohélet: « Y a-t-il une seule chose dont on dise : "voilà enfin du nouveau" ? » (Qo 1, 10). Oui, répondons-nous, le matin de Pâques tout a été renouvelé. « Mors et vita/ duello conflixere mirando : dux vitae mortuus/ regnat vivus – La mort et la vie s’affrontèrent / en un duel prodigieux : / le Prince de la vie mourut ; / vivant, il règne ». Voilà la nouveauté ! C’est une nouveauté qui change l’existence de celui qui l’accueille, comme on le voit chez les saints. C’est ce qui est arrivé, par exemple, à saint Paul.

Bien souvent, dans le cadre de l’Année paulinienne, nous avons eu l’occasion de méditer sur l’expérience du grand Apôtre. Saul de Tarse, le persécuteur acharné des chrétiens, a rencontré le Christ ressuscité sur le chemin de Damas et il a été « conquis » par Lui. Le reste nous est bien connu. Il s’est produit chez Paul ce qu’il écrira plus tard aux chrétiens de Corinthe : « Si quelqu’un est en Jésus Christ, il est une créature nouvelle. Le monde ancien s’en est allé, un monde nouveau est déjà né » (2 Co 5, 17). Tournons notre regard vers ce grand évangélisateur qui, avec l’enthousiasme et l’audace de son action apostolique, a porté l’Évangile à tant de populations du monde d’alors. Que son enseignement et son exemple nous stimulent à rechercher le Seigneur Jésus. Qu’ils nous encouragent à mettre notre confiance en Lui, car désormais la conscience du néant qui tend à intoxiquer l’humanité a été submergé dans la lumière et l’espérance qui proviennent de la résurrection. Désormais, elles sont vraies et bien réelles les paroles du Psaume : « Même la ténèbre pour toi n’est pas ténèbre, et la nuit comme le jour est lumière ! » (138 (139), 12). Ce n’est plus le néant qui enveloppe toutes choses, mais la présence amoureuse de Dieu. Le règne de la mort a même été anéanti, parce que dans les « enfers » aussi le Verbe de vie, poussé par le souffle de l’Esprit, est arrivé (cf. v. 8).
S’il est vrai que la mort n’a plus aucun pouvoir sur l’homme et sur le monde, il subsiste cependant encore beaucoup, trop de signe de son antique domination. Si par la Pâque, le Christ a extirpé la racine du mal, il a toutefois besoin d’hommes et de femmes qui dans tous les temps et lieux l’aident à affirmer sa victoire avec les mêmes armes que lui : les armes de la justice et de la vérité, de la miséricorde, du pardon et de l’amour. C’est le message qu’à l’occasion de mon récent voyage apostolique au Cameroun et en Angola, j’ai voulu porter à tout le continent africain, qui m’a accueilli avec un grand enthousiasme et une grande disponibilité d’écoute. L’Afrique, en effet, souffre de façon démesurée des conflits interminables et cruels – souvent oubliés – qui déchirent et ensanglantent plusieurs pays ainsi que du nombre croissant de ses fils et de ses filles qui deviennent la proie de la faim, de la pauvreté, de la maladie. Je répéterai ce même message en Terre Sainte, où j’aurai la joie de me rendre dans quelques semaines. La difficile mais indispensable réconciliation, qui est la condition première en vue d’un avenir de sécurité commun et d’une cohabitation pacifique, ne pourra devenir réalité que moyennant des efforts renouvelés, persévérants et sincères, pour le règlement du conflit-israélo-palestinien. Depuis la Terre Sainte, mon regard s’étendra aux pays voisins, au Moyen-Orient, au monde entier. En un temps d’insuffisance globale de la nourriture, de trouble financier, de pauvretés anciennes et nouvelles, de changement climatique préoccupant, de violence et de misère qui contraignent de nombreuses personnes à quitter leur terre à la recherche d’une survie moins incertaine, d’un terrorisme toujours menaçant, de peurs grandissantes face à l’incertitude du lendemain, il est urgent de redécouvrir des perspectives capables de redonner l’espérance. Que personne ne se mette en retrait dans cette bataille pacifique inaugurée par la Pâques du Christ, Lequel – je le répète – cherche des hommes et des femmes qui l’aident à affirmer sa victoire avec les mêmes armes, celles de la justice et de la vérité, de la miséricorde, du pardon et de l’amour.
Resurrection Domini, spes nostra ! La résurrection du Christ est notre espérance ! Cela, l’Église le proclame avec joie : elle annonce l’espérance, que Dieu a rendu ferme et invincible en ressuscitant Jésus Christ d’entre les morts ; elle communique l’espérance, qu’elle porte dans le cœur et veut partager avec tous, et partout, spécialement là où les chrétiens souffrent la persécution à cause de leur foi et de leur engagement pour la justice et pour la paix ; elle invoque l’espérance capable de susciter le courage pour le bien aussi et surtout quand il est coûteux. Aujourd’hui, l’Église chante « le jour que le Seigneur a fait » et elle invite à la joie. Aujourd’hui l’Église prie, invoque Marie, Étoile de l’espérance, pour qu’elle guide l’humanité vers le port sûr du salut qui est le Cœur du Christ, la Victime pascale, l’Agneau qui « a racheté le monde », l’Innocent qui « nous a réconcilié, nous pécheurs, avec le Père ». À lui, le Roi vainqueur, à Lui le Crucifié et le Ressuscité, nous crions avec joie notre Alléluia !

Source: http://www.oecumene.radiovaticana.org/fr1/Articolo.asp?c=279705

Bài giảng trong thánh lễ Sáng Phục Sinh của Đức Thánh Cha

Bài giảng trong thánh lễ Sáng Phục Sinh của Đức Thánh Cha

Thánh lễ Phục Sinh tại Vatican đã được cử hành tại thềm đền thờ thánh Phêrô vào lúc 10 giờ 15 sáng ngày Chúa Nhật 12/4 với khoảng 40 ngàn người hiện diện.

Phụng vụ mở đầu với nghi thức Chúa Kitô gặp gỡ thánh Phêrô và được diễn tả qua việc vị kế nhiệm thánh Phêrô hôn kính bức ảnh Chúa Kitô.

Các bài đọc sách thánh được công bố bằng tiếng Tây Ban Nha, Anh, Ý. Sau bài Tin Mừng, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã đọc bài giảng ngắn sau:

Anh chị em thân mến,

“Chúa Kitô, Chiên Vượt Qua, đã bị hiến tế!” (1 Cor 5:7) Trong ngày hôm nay, những lời hùng hồn này của Thánh Phaolô lại vang lên, những lời chúng ta vừa nghe đó đã được trích từ thư Thứ Nhất của ngài gởi dân thành Côrintô. Đoạn văn này được viết mãi 20 năm sau cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, nhưng – như nhiều đoạn văn khác của thánh Phaolô – nó vẫn chứa đựng, trong một tổng hợp đầy ấn tượng, một nhận thức đầy đủ về tính mới mẻ của cuộc sống trong Chúa Kitô. Biểu tượng trung tâm của lịch sử ơn cứu độ - Chiên Vượt Qua - ở đây được đồng hóa với Chúa Giêsu, Đấng được gọi là “Chiên Vượt Qua của chúng ta”. Trong lễ Vượt Qua của người Do Thái, kỷ niệm biến cố được giải phóng khỏi ách nô lệ người Ai Cập, người ta sát tế một chiên con, mỗi con cho một gia đình, như được ghi trong luật Môsê. Trong cuộc thương khó và cái chết của mình, Chúa Giêsu đã tỏ mình ra như Chiên Thiên Chúa, “bị sát tế” trên Thánh Giá, để xóa bỏ tội lỗi thế gian. Ngài bị giết chính vào giờ mà theo thông lệ những chiên con sẽ bị sát tế trong đền thờ Giêrusalem. Chính Người đã tiên liệu trong Buổi Tiệc Ly ý nghĩa sự hy sinh của Người khi thay thế chính mình – dưới hình dạng bánh và rượu – cho thức ăn theo nghi thức bữa ăn tối Lễ Vượt Qua của người Do Thái. Vì thế, chúng ta thực sự có thể nói rằng Chúa Giêsu đã làm viên mãn truyền thống của Lễ Vượt Qua xưa, và chuyển hóa nó thành Lễ Vượt Qua của Người.

Dựa trên ý nghĩa mới này của lễ Vượt Qua, chúng ta có thể hiểu điều Thánh Phaolô dẫn giải về “men”. Vị Tông Đồ đã đề cập đến truyền thống người Do Thái, theo đó, vào dịp Lễ Vượt Qua, điều cần thiết là phải quét sạch khỏi nhà mọi mẫu vụn dù bé nhỏ của bánh có men. Một mặt, điều này nhắc nhớ nhưng gì đã xảy ra cho cha ông họ vào lúc trốn khỏi Ai Cập. Họ đã ra đi vội vã và chỉ đem theo với họ bánh không men. Mặt khác, “bánh không men” còn là biểu tượng của thanh tẩy: nghĩa là loại đi cái cũ để nhường chỗ cho cái mới. Giờ đây, theo như thánh Phaolô giải thích, truyền thống xưa cũng mặc lấy một ý nghĩa mới, xuất phát từ cuộc “Xuất Hành” mới là cuộc vượt qua của Chúa Giêsu từ cõi chết đến sự sống đời đời. Và vì Chúa Kitô, như Chiên thật, đã tự hiến mình vì chúng ta, cả chúng ta nữa, những tông đồ của Người- nhờ Người và qua Người – cũng có thể và phải trở thành “bột mới”, “bánh không men”, được giải thoát khỏi mọi các yếu tố cặn bã của men cũ của tội lỗi: không còn chút gì là xấu xa và độc ác trong con tim chúng ta.

“Chúng ta hãy cử hành lễ này … với bánh không men là lòng chân thành và sự thật”. Lời hô hào này của Thánh Phaolô, kết thúc bài đọc ngắn vừa được công bố, đang vang lên sâu sắc hơn trong bối cảnh của năm Thánh Phaolô.

Anh chị em thân mến,

Hãy đón nhận lời mời gọi của vị Tông Đồ; hãy mở lòng trí chúng ta ra cho Chúa Kitô, Đấng đã chết và đã sống lại để canh tân chúng ta, để tẩy sạch khỏi tim ta chất độc của tội lỗi và sự chết, và để đổ trong ta dòng máu mang sức sống của Chúa Thánh Thần: là sự thánh thiện và cuộc sống đời đời. Trong bài ca tiếp liên của Lễ Phục Sinh, một bài ca như thể là lời đáp dành cho những lời của vị Tông Đồ, chúng ta đã hát lên “Scimus Christum surrexisse a mortuis vere” - chúng ta biết Chúa Kitô đã sống lại thật từ trong cõi chết. Vâng, thật thế! Đây là hạt nhân căn bản trong việc tuyên xưng đức tin của chúng ta; đây là tiếng hô vang chiến thắng hiệp nhất tất cả chúng ta hôm nay. Và nếu Chúa Giêsu đã phục sinh và do đó đang sống, ai có thể ngăn cách chúng ta khỏi Người đây? Ai lại có thể tước đi khỏi chúng ta tình yêu của Người, Đấng đã chiến thắng hận thù và sự chết?

Lời công bố Phục Sinh loan đi khắp toàn thể thế giới với bài hoan ca Alleluia. Chúng ta hãy hát lên trên đôi môi, và chúng ta hãy hát bài hát ấy trước hết với con tim và đời sống chúng ta, với cách sống “không men”, nghĩa là đơn giản, khiêm nhượng, và sinh hoa kết quả trong những việc thiện. “Surrexit Christus spes mea: precedet suos in Galileam” – Chúa Kitô niềm hy vọng của tôi đã phục sinh, và Người đi trước anh em lên Galilêa. Đấng Phục Sinh đi trước chúng ta và Người đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường thế giới. Người là hy vọng của chúng ta. Người là hòa bình đích thật của thế giới. Amen!
J.B. Đặng Minh An dịch
Nguồn : Vietcatholic http://vietcatholic.net/News/Html/66143.htm